Thứ Ba, 6 tháng 9, 2011

Blog Công ty Đào tạo Kế toán Kimi đã đạt 50.000 lượt Pageviews

Sau chuỗi thời gian đạt lượng traffic cao, một blog của Công ty Đào tạo Kế toán Kimi đạt 50.000 Pageviews. Đây lả một kỷ lục trong số các blog cá nhân của Công ty mình. Rồi đây sẽ còn rất nhiều những blog khác sẽ cán cột mốc này trong một thời gian không xa (một số blog khác đã có số lượng pageviews vài chục ngàn lượt). Keke

Blog kế toán Kimi đã đạt cột mốc 50.000 lượt truy cập

Chúc Công ty Đào tạo Kế toán Tổng hợp Kimi ngày càng đạt được những thành công ngoài mong đợi.
Trân trọng cảm ơn.

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011

Thông báo về việc thay đổi cách kết xuất tờ khai 01/GTGT ra file điện tử


Tổng cục Thuế xin thông báo về việc thay đổi cách kết xuất tờ khai 01/GTGT ra file điện tử (*.pdf) từ phần mềm Hỗ trợ kê khai phiên bản 3.0 (HTKK 3.0) như sau:
Theo hướng dẫn trước đây về việc kết xuất tờ khai 01/GTGT ra file điện tử (*.pdf) thì người nộp thuế sẽ kết xuất tờ khai theo các bước sau:
* Bước 1: Sau khi hoàn thiện tờ khai, nhấn nút “In”.
* Bước 2: Chọn máy in: “CutePDF Writer”.
* Bước 3: Nhập thông số Trang in là: “1,a,b,…” (Trong đó: 1 là trang tờ khai chính; a, b, …: là các trang chứa các phụ lục 01-3/GTGT, 01-4A/GTGT … Trừ phụ lục 01-1/GTGT và 01-2/GTGT do khối lượng dữ liệu lớn và kết xuất dưới dạng file Excel).
* Bước 4: Nhấn nút “In”.
* Bước 5: Chọn đường dẫn lưu file tờ khai điện tử.
* Bước 6: Nhấn “Save” để lưu file điện tử.
Tuy nhiên, ứng dụng HTKK 3.0 có thay đổi về tờ khai 01/GTGT liên quan đến việc kết xuất tờ khai điện tử như sau: Tờ khai chính có số trang là 2 (Trang 1 và trang 2). Vì vậy, khi kết xuất ra tờ khai điện tử, người nộp thuế cần thực hiện như sau:
* Tại bước 3: Nhập thông số Trang in là: “1,2,a,b,…” (Trong đó: 1, 2 là các trang chứa tờ khai chính; a, b, …: là các trang chứa các phụ lục 01-3/GTGT, 01-4A/GTGT … Trừ phụ lục 01-1/GTGT và 01-2/GTGT do khối lượng dữ liệu lớn và kết xuất dưới dạng file Excel)
* Các bước 1, 2, 4, 5, 6: Thực hiện như cũ.

Xin thông báo để người nộp thuế biết và thực hiện.
kekhaithue.gdt.gov.vn

Náo nức khai giảng năm học mới 2011-2012


Náo nức khai giảng năm học mới 2011-2012
(Dân trí) - Ngày 4/9, cùng với các trường học khắp cả nước, nhiều trường học trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, Bình Định, Hà Tĩnh... đã tổ chức khai giảng năm học mới 2011-2012.
Học sinh Sóc Trăng trong niềm vui ngày khai trường. (Ảnh: B.D)
Tại Trường THPT Dân tộc Nội trú Huỳnh Cương, nhà trường đã long trọng tổ chức lễ khai giảng năm học mới với sự có mặt của ông Lê Thanh Hải, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; ông Lâm Ren, Phó Trưởng Ban tổ chức tỉnh ủy; ông Lâm Phương, Phó trưởng ban tuyên giáo tỉnh ủy; ông Ngô Hùng, Bí thư tỉnh đoàn; ông Kim Sơn, phó giám đốc Sở GD-ĐT.
Theo báo cáo của nhà trường, năm học 2010-2011, trường đã đạt nhiều thành tích cao trong công tác dạy học như: Có 7 học sinh đạt danh hiệu Học sinh giỏi cấp tỉnh (trong đó có 1 giải nhất, 2 giải nhì, ba giải 3); tỉ lệ học sinh lên lớp đạt 87,9%; thi tốt nghiệp lớp 12 đỗ 93,9%; có 46 em thi đậu nguyện vọng 1 vào các trường CĐ, ĐH (đạt tỉ lệ 38,3%). Trường được công nhận danh hiệu “Trường thi đua Tiên tiến xuất sắc” và được UBND tỉnh đề nghị tặng Bằng khen của Chính phủ. Năm học 2011-2012, trường có 18 lớp với 558 học sinh. Theo kế hoạch, nhà trường phấn đấu đạt tỉ lệ 28% học sinh khá giỏi trong học tập, thi tốt nghiệp lớp 12 đạt trên 90%.
Khai giảng tại Trường THPT Dân tộc Nội trú Huỳnh Cương, Sóc Trăng. (Ảnh: B.D)
Cùng ngày, Trường THCS & THPT Lê Hồng Phong (TP Sóc Trăng) cũng tổ chức lễ khai giảng năm học mới. Tới dự có ông Quách Việt Tùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; ông Võ Thanh Nhàn, Chủ tịch UBND thành phố Sóc Trăng. Dù mới được thành lập năm 2010-2011 nhưng năm học qua, trường THCS & THPT Lê Hồng Phong cũng đã đạt được những thành tích cao như có 11 học sinh đạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp thành phố (trong đó có 4 giải nhất); thi học sinh giỏi giải toán bằng máy tính cầm tay có 4 em đạt giải; hai em đạt giải trong kỳ thi “Văn hay chữ tốt” cấp thành phố; có 1 em đạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh…
Năm học này trường có 54 lớp (33 lớp cấp THCS, 21 lớp cấp THPT) với 2.108 học sinh và 110 giáo viên. Mục tiêu trong năm học mới của nhà trường là giữ vững, phát huy những thành tích đã đạt được trong năm qua, phấn đấu xậy dựng trường ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng.
Khai giảng năm học mới tại Trường THCS & THPT Lê Hồng Phong (TP Sóc Trăng). (Ảnh: B.D)
Trước đó, ngày 3/9, lễ khai giảng năm học mới cũng được tổ chức tại trường Dân tộc Nội trú Kế Sách. Ngày 1/9, ông Kim Sơn, Phó Giám đốc Sở GD-ĐT Sóc Trăng đã dự lễ khai giảng năm học mới và lễ công nhận Trường tiểu học Tân Long 1 huyện Ngã Năm đạt chuẩn Quốc gia. 
Theo kế hoạch, ngày 5/9, tất cả các trường học trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng sẽ đồng loạt tổ chức khai giảng năm học mới 2011-2012.
Sáng nay 4/9, tại TP Quy Nhơn, Bình Định, thầy và trò Trường THPT Quốc học Quy Nhơn long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 90 năm ngày thành lập trường (1921-2011) và khai giảng năm học mới 2011- 2012.
Tham dự lễ có ông Lê Hữu Lộc, phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, các đồng chí ban lãnh đạo các sở, ban, ngành, cựu học sinh đang học tập công tác khắp các tỉnh thành cùng 1.700 học sinh của trường.
Trang nghiêm trong lễ chào cờ. (Ảnh: Doãn Công)
Phát biểu tại buổi lễ, ông Lê Hữu Lộc đánh giá cao những thành tích cao mà thầy và trò Trường THPT Quốc học Quy Nhơn đạt được trong những năm qua. Ông Lê Hữu Lộc nhấn mạnh: “Trong năm học mới đề nghị thầy và trò của trường tiếp tục cố gắng phát huy những thành tích đã đạt được, tiếp nối truyền thống vẻ vang của trường”.
Hàng ngàn học sinh Trường THPT Quốc học Quy Nhơn nô nức ngày khai giảng. (Ảnh: Doãn Công)
Thay mặt nhà trường ông Trần Xuân Bình, phó Bí thư tỉnh ủy, Hiệu trưởng nhà trường lên đọc diễn văn khai mạc, báo cáo kết quả của trường và cảm ơn sâu sắc đến sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh, các ban ngành trong tỉnh. Thầy và trò trường Quốc Học Quy Nhơn xin hứa: “Nguyện ra sức dạy tốt, học tốt để viết tiếp những trang vàng truyền thống vẻ vang”.
Nhân dịp này, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã gửi thư chúc mừng cán bộ giáo viên, học sinh trường nhân dịp bước vào đầu năm học mới.
Tại buổi lễ, thầy và trò Trường Quốc học Quy Nhơn vinh dự được nhận lẵng hoa và thư chức mừng của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận.
Tại Hà Tĩnh, nhân buổi lễ khai giảng năm học 2011-2012 vào sáng 3/9, Trường tiểu học Bùi Xá (xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh) đã công bố đổi tên trường mang tên cố nhà văn Nguyễn Xuân Thiều.
 
Lễ khai giảng năm học năm 2011-2012 vào sáng ngày 3/9 với toàn thể học sinh và giáo viên nhà Trường tiểu học Bùi Xá (xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh) là một buổi lễ rất đặc biệt khi ngôi trường chính thức đổi tên thành Trường tiểu học Nguyễn Xuân Thiều, mang tên nhà văn, đại tá quân đội Nguyễn Xuân Thiều (1930 - 2007).
 
Học sinh biểu diễn văn nghệ chào mừng sự kiện đặc biệt của ngôi trường. (Ảnh: Hà Phương)
 
Ngay sau lễ công bố, nhiều nhà văn, đại diện gia đình nhà văn Nguyễn Xuân Thiều đã bày tỏ niềm xúc động, vinh dự khi từ đây tên tuổi của một nhà cách mạng đã chiến đấu, cống hiến cho đất nước, một nhà văn đã giành nhiều giải thưởng lớn với nhiều tác phẩm bất hủ, một người con nặng tình với quê hương đã được gắn với hành trình phát triển của mái trường nơi đào tạo, bồi dưỡng thế hệ tương lai.
Nhân dịp này các con cháu của nhà văn Nguyễn Xuân Thiều đã tặng số tiền 1,2 tỷ đồng để nhà trường xây dựng phòng dạy Tin học phụ vụ công tác giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh.
Cố nhà văn, Đại tá Xuân Thiều (tên khai sinh là Nguyễn Xuân Thiều) sinh ra từ gia đình nông dân ở xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, nhà văn Xuân Thiều đã nhận được nhiều giải thưởng văn học qua các cuộc thi truyện ngắn của: Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật VN, Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu, Giải thưởng của UB Thiếu niên, Nhi đồng và Hội Nhà văn VN. 
Ông cũng được Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, nhì và ba, huy chương Quân kỳ quyết thắng, huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.
Nhóm PV Dân trí

Áp lực tỷ giá cuối năm 2011


Áp lực tỷ giá cuối năm 2011
Tỷ giá USD tại VN đã duy trì ổn định dưới 21.000 đồng trong vòng 3 tháng qua. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia dự báo, áp lực tăng giá của ngoại tệ này trong những tháng cuối năm rất lớn.
Cầu tăng, giá tăng

Tính đến hết tháng 6, tín dụng ngoại tệ tăng hơn 23% so với cuối năm 2010 trong khi tín dụng tiền đồng tăng chưa tới 3%. Đây là kết quả tất yếu khi lãi suất cho vay tiền đồng vẫn ở mức cao ngất ngưởng trong thời gian qua đã khiến hàng loạt doanh nghiệp (DN) có xu hướng vay vốn bằng ngoại tệ. Nhưng cũng vì thế, những con sóng ngầm trên thị trường ngoại tệ là hoàn toàn có thật. Theo TS Hoàng Công Gia Khánh - Trưởng khoa Ngân hàng, ĐH Kinh tế - Luật TP.HCM, việc chuyển sang vay vốn bằng ngoại tệ, nhất là USD của DN thời gian qua khá lớn sẽ dẫn đến áp lực trả nợ tại một thời điểm khá cao.Thông thường khoảng thời gian 3-6 tháng sau khi vay. Khi đó nhu cầu về USD tăng lên và đây là một trong những áp lực làm cho giá USD có thể biến động theo chiều hướng gia tăng. Đồng quan điểm trên, ông  Huỳnh Thế Du - giảng viên Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, cho rằng bản chất của nền kinh tế VN là luôn thiếu USD do tình trạng nhập siêu kéo dài. Do đó việc giữ tỷ giá USD ổn định trong thời gian qua chỉ mang tính tạm thời. Từ nay đến cuối năm khả năng tăng giá USD là tất yếu vì áp lực về cầu ngoại tệ này đang tăng lên. Trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước (NHNN) muốn giảm lãi suất thì phải bơm tiền đồng và điều đó cũng sẽ tạo thêm áp lực cho tỷ giá.
Trong báo cáo triển vọng thị trường tiền tệ số ra tháng 8.2011 vừa qua, Tập đoàn HSBC cũng dự báo tỷ giá USD tại VN sẽ tăng lên 21.500 đồng từ quý 3/2011 và sẽ duy trì mức tỷ giá này đến hết quý 2/2012. VND cũng là đồng tiền duy nhất tại khu vực Nam Á (mà HSBC đưa vào so sánh) sẽ giảm giá so với USD trong khi đồng tiền của các nước như Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan,... đều được dự báo sẽ tăng giá so với USD trong cùng thời gian này.

Cần linh hoạt hơnTheo NHNN, dự trữ ngoại hối đã gia tăng thêm được 5 tỉ USD trong thời gian qua. Dựa trên số liệu của IMF công bố, ước tính dự trữ ngoại hối của VN hiện tại vào khoảng 16 - 17 tỉ USD. Mức dự trữ ngoại hối này tuy không phải quá lớn nhưng cũng có thể giúp NHNN can thiệp vào thị trường ngoại hối trong ngắn hạn. Thế nhưng nhu cầu nhập khẩu hàng hóa luôn gia tăng vào những tháng cuối năm dẫn đến nhu cầu về thanh toán của DN tăng; lạm phát cao... nên cuối năm luôn là thời điểm nhạy cảm biến động về vấn đề tỷ giá. Vì vậy, giảm áp lực tăng giá USD hoặc tránh cho thị trường những cú sốc đột ngột là bài toán mà NHNN phải thực hiện. TS Hoàng Công Gia Khánh cho rằng NHNN nên chấp nhận biến động tỷ giá linh hoạt theo sát cung cầu của thị trường và không nên xem tỷ giá như một cái neo cố định. NHNN phải xác định tỷ giá mục tiêu đến cuối năm và có lộ trình để thị trường thích nghi. Đặc biệt NHNN cần mạnh dạn phát đi thông điệp rõ ràng về vấn đề này để người dân tránh kỳ vọng vào việc tăng giá USD trong thời gian tới.Theo các chuyên gia kinh tế, nếu giá USD biến động thì sẽ càng khó có cơ hội để kéo giảm lãi suất VND như mong muốn. Nếu cứ áp dụng cứng ngắc chính sách hành chính để neo giữ tỷ giá USD cố định thì sẽ tiếp tục xảy ra tình trạng hai giá trong giao dịch USD như trước đây. Vì vậy theo ông Huỳnh Thế Du, chính sách tỷ giá cần linh hoạt hơn trong từng thời điểm. Ngoài ra, vẫn phải tiếp tục kiên trì chính sách tiền tệ chặt chẽ, giảm việc in thêm tiền hay nguồn vốn đưa vào những khu vực không hiệu quả càng thêm bất lợi trong việc kiểm soát lạm phát và tỷ giá. TS Lê Thẩm Dương - ĐH Ngân hàng TP.HCM, nhấn mạnh: NHNN phải nhanh chóng có ngay các giải pháp công bố trong tháng 8 để tạo niềm tin cho người dân vì các tín hiệu căng thẳng lên tỷ giá USD đã quá rõ. Bởi càng để chậm, việc kỳ vọng vào tỷ giá USD tăng hay giảm đều nguy hiểm như nhau vì nó sẽ khiến cho thị trường tiền tệ không ổn định và sẽ dẫn theo nhiều hệ lụy khác.
Theo ffa.com.vn

Lương tối thiểu có thể tự điều chỉnh theo biến động giá


Điều chỉnh lương tối thiểu thế nào?

Nếu được thông qua Luật Lương tối thiểu năm 2014 thì lương trả cho người lao động sẽ tự động điều chỉnh theo biến động giá.

Hiện nay, mức lương tối thiểu năm 2011 hiện tại như sau:

VùngMức lương tối thiểu vùng áp dụng từ ngày 1/10/2011 – 31/12/2012
I2.000.000 đồng/tháng
II1.780.000 đồng/tháng
III1.550.000 đồng/tháng
IV1.400.000 đồng/tháng

Bà Tống Thị Minh, Vụ trưởng Vụ Lao động – Tiền lương, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho biết, Bộ đang có kế hoạch soạn thảo Luật Tiền lương tối thiểu, dự kiến sẽ được trình Quốc hội thông qua vào năm 2014.

Đại diện Vụ Pháp chế của Bộ này cho hay, Luật Lương tối thiểu sẽ quy định những căn cứ để xác định mức lương tối thiểu, bao gồm: nhà ở, ăn uống, đi lại, bảo hiểm… và quy định những thành phần nào có quyền điều chỉnh mức lương tối thiểu. Hiện nay chưa có quy định cụ thể những căn cứ xác định lương tối thiểu.
Theo Bộ luật Lao động, lương tối thiểu là một mức lương thấp nhất theo quy định. Đó là số tiền trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong xã hội với điều kiện làm việc và cường độ lao động bình thường, lao động chưa qua đào tạo nghề.

Khi Luật Lương tối thiểu ra đời, sẽ từng bước đảm bảo đời sống cho người lao động ở mức cơ bản nhất. Lương tối thiểu sẽ điều chỉnh theo biến động giá.

Cũng theo Đại diện Vụ Pháp chế, Luật sẽ quy định, khi giá cả biến động thì mức lương tối thiểu cũng phải điều chỉnh theo, tránh để tình trạng “lương chạy theo giá” như hiện nay.

Trong giai đoạn 2011 - 2016, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã đăng ký với Chính phủ trình Quốc hội thông qua 7 Luật. Ngoài 4 luật sửa đổi, bổ sung là Bộ luật Lao động, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Dạy nghề, thì sẽ có ba luật mới là Luật Việc làm, Luật An toàn vệ sinh lao động và Luật Tiền lương tối thiểu.

Theo 24h.com.vn
Đào tạo Kế toán Kimi sưu tầm

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011

Mẹo viết CV khi xin việc Kế toán

Mẹo viết CV (Curriculum Vitae) giành cho sinh viên mới tốt nghiệp

Để hỗ trợ các bạn trên con đường lập nghiệp, Đào tạo Kế toán Kimi xin chia sẻ với các bạn những kinh nghiệm quí báu trong cách viết CV. Chúc các bạn tìm được công việc yêu thích và xứng đáng!

Tận dụng phần giới thiệu bản thân:

Trong phần tự thuật bản thân khoảng 3 đến 4 dòng ngay phần mở đầu CV, ai cũng giới thiệu mình là một người nhiệt huyết và tận tụy. Bởi vậy, thay vào đó hãy tận dụng không gian này để vạch ra những điều mà bạn muốn làm và vì sao bạn lại làm như vậy trong mục tóm tắt nghề nghiệp. Điều này sẽ làm cho CV của bạn thật sự khác biệt và giúp bạn thể hiện rõ những điểm chính mà bản thân muốn làm. Và những điểm chính này cũng là điều mà các tuyển dụng quan tâm vì có rất nhiều hồ sơ ứng tuyển mà thí sinh không biết mình phải làm gì.
Sau đây là một bản giới thiệu bản thân thông thường hay gặp: “ Tôi là người tự tin, nhiệt tình và rất chăm chỉ. Tôi có trách nhiệm với công việc với vẻ ngoài chững chạc và có nhiều kỹ năng giao tiếp thành thạo. Tôi thích gặp gỡ giao lưu với mọi người. Tôi thích làm việc nhóm, tận tụy, sáng tạo và học hỏi những kỹ năng mới”. Đây chỉ là một tập hợp những tính từ miêu tả dành cho bất cứ công việc nào, mà không có một điểm nhấn thật sự nào làm nổi bật CV của bạn.

Tuy nhiên, cũng với thông tin đó nhưng ta có thể viết hay hơn rất nhiều như sau: “ Mục tiêu nghề nghiệp: Tôi muốn tập trung phát triển thành công kỹ năng bán hàng và marketing tại (tên công ty). Tôi chủ trương tìm kiếm và phát hiện những kinh nghiệm làm việc trong một môi trường mà tôi biết rằng đầy thách thức với nhịp độ nhanh chóng và dựa trên thành quả công việc thu được. Tôi có khả năng thiết lập quan hệ nhanh chóng, kiên trì và khao khát thành công trong công việc.”

(Theo Lucy Cheatham, Giám đốc Marketing Grad Central – chuyên gia tuyển dụng tại West Midlnads).

Từ khóa CV dễ tìm kiếm:
Sinh viên cũng cần chú ý cách các doanh nghiệp và chuyên gia tuyển dụng tìm kiếm CV qua hệ thống máy tính. Nhờ sự phổ biến rộng rãi của hệ thống dữ liệu và từ khóa tìm kiếm, mà việc sinh viên tạo ra những CV dễ tìm kiếm là rất quan trọng. Do vậy cần có bước dự đoán những từ khóa mà các nhà tuyển dụng có thể tìm kiếm trong CV. Các doanh nghiệp sẽ tìm kiếm những từ khóa về phẩm chất của ứng cử viên, năng lực và kỹ năng chuyên môn phù hợp với vai trò và nghề nghiệp tuyển dụng.

Những từ khóa trong lĩnh vực chuyên môn bao gồm marketing trực tiếp, marketing truyền thông đại chúng, tìm kiếm phương tiện tối ưu hóa và chiến dịch quản lý. Những từ khóa về khả năng là: làm việc nhóm, khả năng giao tiếp và thương lượng.

(Theo Rowan Manahan , người sáng lập công ty Fortify Services chuyên tư vấn nghề nghiệp và là tác giả của The Ultimate CV)

Tạo lý do để nhà tuyển dụng muốn gặp bạn:
Sai lầm phổ biến của các sinh viên mới ra trường là CV dài dòng và không đưa ra lý do rõ ràng để các nhà tuyển dụng muốn gặp họ. Các bạn hãy đặt mình vào vị trí của một người phải đọc lướt qua CV của bạn giữa một chồng hàng trăm hồ sơ chồng chất. Có 3 thứ rất quan trọng mà người tuyển dụng đó muốn biết về bạn, những điều sẽ tạo nên sự khác biệt cho bạn và khiến họ nghĩ rằng bạn xứng đáng để họ gặp mặt. Hãy cân nhắc kỹ càng những điểm khác biệt đó, tương tự khi giới thiệu một sản phẩm trong marketing bao giờ cũng đưa ra điểm đặc sắc của sản phẩm ở ngay trước mặt và tại địa điểm dễ thấy nhất. Điều này sẽ giúp nhà tuyển dụng rất nhiều và cũng tăng cơ hội giúp bạn lọt vào vòng trong.

Bởi vậy, từ kinh nghiệm làm việc/thực tập hay qua hoạt động ngoại khóa, hãy chứng minh khả năng hoàn thành công việc, sức sáng tạo và lãnh đạo tiềm ẩn, kỹ năng giao tiếp và thực hiện công việc một cách hiệu quả và trôi chảy của bản thân với mọi người.

(Theo Rob Cross, chuyên gia về phát triển tài năng và là tác giả của Mong đợi của Sinh viên mới tốt nghiệp: Hướng dẫn cần thiết cho tất cả sinh viên mới ra trường tìm việc)

Tập trung vào giá trị tạo ra, không phải vị trí công việc:

Sau khi đọc hàng trăm CV của sinh viên mới tốt nghiệp, tôi thấy một điều thú vị là rất nhiều người chỉ nói về những công việc mà họ đã làm được hơn là viết về những giá trị mà họ chuyển tải. Khi viết CV, điều họ quên mất là khi tôi là một chủ doanh nghiệp, tôi có khách hàng, các cổ đông, nhân viên và với mỗi đối tượng, tôi lại có những kỳ vọng riêng vào sự đầu tư và nỗ lực của họ.
Bởi vậy, điều cần thiết trở thành thành viên công ty chúng tôi là các bạn phải bổ sung những giá trị mới của bản thân mình. Với ý định đó, khi viết CV, bạn phải chứng minh được rằng sự sáng tạo của mình sẽ đem lại những giá trị thật sự. Ví dụ, một người chỉ chú ý vào vị trí công việc thì viết: “ Trưởng tiếp tân nhà hàng” trong khi một người có suy nghĩ lưu ý về giá trị sẽ viết là: “Số lượng đặt chỗ tăng hàng đêm và đáp ứng 20% nhu cầu khách hàng nhờ triển khai chương trình đào tạo mới khi là Trưởng tiếp tân nhà hàng”. Câu thứ 2 ngay lập tức thu hút sự chú ý của bạn, bạn muốn thuê họ bởi họ tạo ra sự khác biệt, họ bổ sung giá trị mới. Như vậy, giá trị sẽ là tiêu chí để tôi tuyển dụng.

(Theo Richard Freeborn, giám đốc tuyển dụng nhân viên mới tốt nghiệp ngân hàng quốc gia Santander)

Đầu tư thời gian vào đơn xin việc:
Lời khuyên tốt nhất của tôi chính là dành lượng thời lượng đáng kể cho đơn xin việc của các bạn. Mỗi ngày, tôi đều đọc những đơn xin việc được viết một các vội vã và các thí sinh chỉ đưa ra những câu trả lời gói gọn 100 từ. Một điều quan trọng là bạn phải phát triển câu trả lời của mình thật logic, chỉ rõ thời gian, công việc bạn đã làm và kết quả ra sao. Theo kết cấu trên bạn có thể trả lời theo ý chính một cách thống nhất và liên kết chặt chẽ.

(Theo Linda Buckham, giám đốc trung tâm nghề nghiệp và tuyển dụng, Đại học Sussex)

Hợp lý:

Sinh viên nên viết CV phù hợp với công việc mà bạn đang ứng tuyển. Hầu hết nhà tuyển dụng không có nhiều thời gian đọc CV nên đừng đưa vào những thông tin không liên quan như tên đề tài luận văn nếu nó không phù hợp với công việc đó.
Thay vào đó, hãy miêu tả những thành công và kỹ năng mà bạn có được khi viết luận văn. Ví dụ: “ Để viết luận văn, tôi đã phân tích và diễn giải thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như internet và thư viện”. Tương tự, bạn cũng phải khéo léo khi trình bày kinh nghiệm bản thân. Nếu kinh nghiệm liên quan nhất của bạn cũng không phù hợp với công việc, hãy chia phần kinh nghiệm thành 2 mục: Công việc liên quan và kinh nghiệm bổ sung.

(Theo Jonathan Black, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ việc làm, Đại học Oxford)    

Nhà tuyển dụng muốn có ứng cử viên giàu tinh thần trách nhiệm và có nhiều thành tựu trong công việc:

Nên sử dụng những cụm từ như “ Tôi có trách nhiệm trong…” và “ Những kết quả tôi đạt được..”. Dù bạn không dùng chính xác những từ nêu trên, nó cũng sẽ giúp bạn tránh những lời miêu tả như “ Tôi đã tham gia rất nhiều cuộc họp bàn kế hoạch tổ chức dạ hội sinh viên”. Thay vào đó, dù ít hay nhiều, bạn hãy miêu tả công việc cụ thể mà bạn phụ trách là gì và bạn thu được kết quả gì.
Ví dụ: “ Là người phụ trách phần âm nhạc, tôi đã thu xếp cho 4 ban nhạc chuyên nghiệp biểu diễn tại dạ hội sinh viên”. Đừng lo lắng về công việc mà bạn miêu tả, các nhà tuyển dụng sẽ không quá chú tâm đó là tổ chức liên hoan bia rượu, câu lạc bộ bóng bầu dục, nhà thờ hay ban nhạc, miễn là bạn chứng tỏ mình đã thu hoạch được gì. Và cũng đừng quá bận tâm vào số lượng đạt được, không phải ai cũng quyên góp được hàng trăm pounds cho trẻ em mồ côi ở Châu Phi nên chỉ với £50 quyên góp từ bạn bè cho nhà tế bần nơi bạn ở cũng là một điều tuyệt vời.

(Theo Ruth Wilcock, tư vấn nghề nghiệp, Trung tâm phát triển kỹ năng nghề nghiệp, London University)

Thư xin việc phù hợp với từng vị trí:

Trước khi nộp đơn cho một công việc cụ thể bạn cần chỉnh sửa lại đơn xin việc của mình. Các nhà tuyển dụng mong bạn ứng tuyển vào công việc mà họ đăng tuyển chứ không phải bất cứ công việc nào khác. Trước khi sửa lại CV hay viết thư xin việc bạn cần viết rõ tên người nhận, tìm kiếm vị trí và công ty bạn đăng ký dự tuyển. Bạn có kinh nghiệm gì trực tiếp liên quan những kỹ năng và kinh nghiệm mà vị trí đặc biệt yêu cầu? Điều này rất quan trọng vì nó sẽ làm nổi bật đơn xin việc của bạn.

Không nên e ngại việc thường xuyên thay đổi CV với từng công việc mà bạn ứng tuyển. Bạn nên để một mục kinh nghiệm/ công việc tương ứng tại trang đầu CV do vậy nhà tuyển dụng dễ dàng nhận thấy bạn đã thật sự đầu tư vào vị trí nộp đơn và bạn có những kinh nghiệm liên quan trực tiếp đến công việc. Đối với những kinh nghiệm gián tiếp liên quan, hãy nhấn mạnh tới những kỹ năng phù hợp và các hoạt động đã tham gia.

Mục trình độ học vấn/chứng chỉ cũng cần thay đổi. Trong mục này không chỉ đơn thuần liệt kê ra những khóa học, trường lớp hay bằng cấp mà bạn đã tham gia. Bạn cần đi sâu vào chi tiết hơn như bài tập khóa học, dự án khi làm nhóm hay nghiên cứu chuyên sâu (luận văn). Nếu chúng phù hợp và kết quả bạn thu được là xuất sắc thì nên liệt kê chúng một cách chính xác dưới mục trình độ học vấn của CV. Điều này không chỉ chứng tỏ học vấn của bạn phù hợp với công việc mà bạn cũng đã thành công khi chuyển tải những kỹ năng quan trọng tới nhà tuyển dụng.

Nguồn: Bridgeblue.edu.vn
Dịch bởi Ketoan.Org

Tính hữu ích của Báo cáo tài chính

Các luận điểm về tính hữu ích của việc lập Báo cáo tài chính!

  Mục tiêu của Báo cáo tài chính (BCTC) là cung cấp các thông tin tài chính hữu ích cho người sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế. Tuy nhiên, khi các nguyên tắc, yêu cầu, hướng dẫn lập và trình bày BCTC không rõ ràng và đầy đủ, thiếu tính đồng bộ, hay khó áp dụng, sẽ không đảm bảo được các tính chất (đáng tin cậy, có thể hiểu, so sánh được…), BCTC vì thế trở nên kém hữu ích. Thông tin tài chính hữu ích là đối tượng được quan tâm đặc biệt của nhiều tổ chức nghề nghiệp, nhà nghiên cứu, thực hành kế toán trên thế giới trong nhiều năm qua, với nhiều giác độ tiếp cận khác nhau.

Quan điểm của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Tài chính Mỹ (FASB)

Khái niệm số 1 (1980), viết tắt là CON1, đoạn 32 nêu rõ: "các đặc trưng của thông tin giúp nó trở nên quý giá để dẫn dắt việc lựa chọn các chính sách kế toán được ưu tiên từ những phương án sẵn có. Chúng có thể được xem như một hệ thống thứ bậc các tính chất kế toán, hữu ích để ra quyết định trong những tình huống quan trọng."

Để trở nên hữu ích, thông tin tài chính phải thểhiện được từng tính chất trong một chừng mực tối thiểu. Mặc dù trong hệ thống có sự phân định giữa các tính chất sơ cấp và các tính chất khác nhưng không tính chất nào được chỉ định là ưu tiên hơn; hơn nữa, một loại tính chất nào đó có thể bị hy sinh để có được những tính chất khác mà không làm giảm sự hữu ích của thông tin (CON2, đoạn 31)

Thông tin kế toán khi được định hướng đến người sử dụng để ra quyết định trên cơ sở đáp ứng các tính chất làm cho trở nên hữu ích, nhưng tiến trình này đã gặp phải hai trở ngại quan trọng: Áp lực về cân đối lợi ích- chi phí: Việc cung cấp thông tin tài chính tiêu tốn nhiều chi phí để thu nhập, xử lý, soạn thảo các BCTC hoặc cho kiểm toán; hơn nữa còn phải xem xét các chi phí phát sinh từ phía người sử dụng như thu thập, phân tích, hay loại bỏ những thông tin thừa. Trong khi lợi ích mang lại từ thông tin, chẳng hạn sự đáp ứng một yêu cầu pháp lý, thương mại, hay củng cố hình ảnh tài chính của doanh nghiệp, tạo niềm tin cho khách hàng và giới đầu tư (đối với người soạn thảo), hoặc có thể là những kết quả phân tích, dự báo phù hợp và đáng tin cậy cho việc ra quyết định (đối với người sử dụng thông tin)…có thể không tương xứng với số tiền đã bỏ ra. Nói cách khác, tính hữu ích của thông tin tài chính bị giảm sút néu chi phí vượt quá lợi ích mang lại từ việc cung cấp sử dụng thông tin. Điều này gây ra áp lực rất lớn đến việc cung cấp thông tin tài chính hữu ích nếu yêu cầu quá cao về lợi ích mang lại của thông tin từ phía nhà nước, người sử dụng so với khả năng đáp ứng của doanh nghiệp.

Trong những tình huống không chắc chắn, đòi hỏi phải có sự xét đoán của người làm kế toán hoặc những người liên quan trực tiếp khác như các kiểm toán viên, nhà phân tích về những sự kiện quan trọng có thể ảnh hưởng lớn đến việc ra quyết định của người sử dụng thông tin. Sự xét đoán về mức độ ảnh hưởng gắn liền với tính chất trọng yếu của sự kiện, trên phương diện tổng thể hoặc cục bộ, đặc biệt là ở khía cạnh định lượng. Do vậy, việc đưa ra các hướng dẫn hay tiêu chuẩn để giúp xác định các mức trọng yếu theo từng ngành, lĩnh vực hoạt động là điều cần thiết để các bên liên quan có được sự đảm bảo hợp lý khi đưa ra các xét đoán là không bị lệ thuộc nhiều vào các ngưỡng nhận thứ cá biệt nào, chẳng hạn như Bảng hướng dẫn các ví dụ về định lượng mức trọng yếu được FASB đưa ra trong CON2 trên cơ sở tham chiếu các hướng dẫn của SEC, APB. Điều này chắc chắn sẽ giúp tăng cường tính hữu ích của thông tin tài chính được cung cấp.

Trong hệ thống các tính chất kế toán thì sự phù hợp và đáng tin cậy là những khái niệm trung tâm của kế toán.

Để phù hợp (relevant), thông tin kế toán phải có năng lực tạo ra sự khác biệt trong một quyết định qua việc giúp cho người sử dụng thông tin thực hiện thiết lập các dự báo về kết quả của các sự kiện trong qúa khứ, hiện tại, hay tương lai, xác nhận hoặc hiệu chỉnh các kỳ vọng (CON2, đoạn 47). Một mặt, tính phù hợp của thông tin tài chính bao gồm hai thành tố là giá trị dự báo (predictive value) và giá trị phản hồi (feedback value), bởi vì không nhận thức được quá khứ thì không đủ cơ sở để dự báo, không có lợi ích trong tương lai thì nhận thức về quá khứ cũng vô dụng (CON2, đoạn 51), điều này thể hiện rất rõ trong các báo cáo giữa niên độ để thể hiện thành quả quá khứ lẫn dự báo thu thập thường niên trước khi kết thúc niên độ; mặt khác, tính kịp thời cũng được xem một khía cạnh lệ thuộc của tính phù hợp bởi nếu thông tin không sẵn có khi cần hoặc chỉ có sau khi các sự kiện đã được báo cáo rất lâu thì thông tin sẽ thiếu tính phù hợp và ít được sử dụng.

Tính tin cậy (reliability) cũng như tính phù hợp rất quan trọng để làm sáng tỏ thực chất của các yêu cầu để có được số liệu kế toán được mô tả một cách xác thực (CON2, đoạn 58). Thông tin kế toán đáng tin cậy khi người sử dụng thông tin có thể đặt niềm tin vào đó để ra quyết định, dựa trên hai đặc trưng quan trọng là trình bày trung thực (representational faithfulness) và có thể kiểm tra (verifiability), ngoài ra tính trung thực (neutrality) của thông tin cũng có quan hệ tương tác với hai đặc trưng trên để tác động lên tính hữu ích của thông tin (CON2, đoạn 62)

Thông tin tài chính của doanh nghiệp sẽ mang lại sự hữu ích to lớn nếu được so sánh với những thông tin tương tự về các doanh nghiệp khác hoặc so sánh với các thông tin qua các thời kì, thời điểm tại cùng một doanh nghiệp. Điều này càng được thể hiện rõ trong các quyết định cho vay, đầu tư bởi chúng được dựa trên sự ước lượng các cơ hội thay thế. Tuy nhiên, việc so sánh gặp nhiều khó khăn bởi có nhiều phương pháp kế toán khác nhau được chấp thuận trong nhiều năm, đây là nguyên nhân mang tính nguyên tắc để phát triển các chuẩn mực kế toán (CON2, đoạn 112)

Và quan điểm của Hội đồng Chuẩn mực kế toán tài chính Quốc tế (IASB)


Khuôn mẫu lý thuyết (framework) (được IASC phê chuẩn năm 1989 và tiếp tục được IASB kế thừa từ năm 2001), tại đoạn 24 đã xác định 4 đặc tính chủ yếu làm cho thông tin trên BCTC trở nên hữu ích đối với nhà đầu tư, cho vay và các đối tượng khác gồm: tính có thể hiểu, tính phù hợp, tính đáng tin cậy và tính có thể so sánh. Chúng được đặt trong ngữ cảnh ba cấp độ khuôn mẫu về khái niệm cho việc soạn thảo.

Nhìn chung, các tính chất của thông tin tài chính theo Framework cũng khá tương đồng với quan điểm của FASB, chẳng hạn diễn giải về tính có thể hiểu nêu trong Framework tại đoạn 25: thông tin phải được trình bày theo cách thức sao cho những người có trình độ nhận thức tương đối về kinh doanh, hoạt động kinh tế, kế toán và những người để tâm nghiên cứu thông tin có thể dễ dàng hiểu được, nội dung này không khác gì so với đoạn 34 của CON1. Và những nội dung liên quan đến các tính chất khác cũng được Framework đề cập một cách tương tự với FASB CON1 và CON2. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý một số điểm khác biệt giữa IASB và FASB liên quan đến các tính chất làm cho thông tin kế toán trở nên hữu ích, qua 3 quan điểm mấu chốt sau:

- Thứ nhất, mặc dù cả hai đều đề cập đến các đặc tính có thể hiểu, phù hợp, đáng tin cậy và có thể so sánh, nhưng Framework xem đó đều là những tính chất sơ cấp trong khi CON2 đưa ra một thứ bậc rõ ràng với mức độ sơ cấp dành cho tính đáng tin cậy và phù hợp, thứ cấp dành cho tính có thể so sánh, còn tính dễ hiểu đứng tách biệt với các tính chất khác và gắn với đặc thù của người sử dụng thông tin.

- Thứ hai, tính đáng tin cậy của thông tin trong Framework được dựa trên việc đảm bảo các yêu cầu về trình bày trung thực, nội dung hơn hình thức, khách quan, thận trọng và đầy đủ (các đoạn từ 33 đến 38), trong khi theo CON2 thì tính đáng tin cậy bao gồm ba thành phần là trình bày trung thực, có thể kiểm tra và trung lập (Hình 1-1)

- Thứ ba, tính phù hợp của thông tin trình bày trong Framework chủ yếu liên quan đến tính trọng yếu và kịp thời, chịu ảnh hưởng bởi bản chất và tính trọng yếu (đoạn 29), và sự chậm trễ trong báo cáo thông tin có thể làm mất đi tính phù hợp của thông tin (đoạn 43); trong khi đó CON2 cho rằng ngoài tính kịp thời, tính phù hợp còn bao gồm hai thành phần khác là giá trị dự báo và giá trị phản hồi (hình 1-1)

Cho đến nay, IASB và FASB đã có nhiều nỗ lực trong việc tìm kiếm sự hoà hợp trong quan điểm về các khái niệm, lý thuyết và thực hành kế toán, trong lúc đó, cả hai hiện vẫn đang là nguồn cung cấp tài liệu quan tham khảo, đối chiếu quan trọng nhất trong lĩnh vực kế toán trên thế giới.

Một số luận điểm khác liên quan đến tính hữu ích của thông tin.

Nhóm tác giả Collins, Maydaw và Weiss (1997) trên cơ sở đánh giá hồi quy trong giai đoạn từ 1953 đén 1993 nhận thấy: sự kết hợp giữa giá trị phù hợp của lợi nhuận và giá trị ghi sổ của TS không bị suy giảm trong 40 năm qua, thậm chí còn tăng lên một ít, hơn nữa các tác giả Fransis và Schipper (1996), Eley và Waymire (1996) nói chung đều đồng tình rằng mối liên hệ giữa các biến số của thông tin vốn và các dữ liệu tài chính cũng nhận được sự quan tâm đáng kể.

Nhóm tác giả Baruch Lev và Paul Zarowin (1998) của Đại học Newyork thì có quan điểm ngược lại. Theo đó, liên kết chéo giữa cổ tức và lợi nhuận báo cáo và liên quan đến sự hữu ích của thông tin về lợi nhuận đối với các nhà đầu tư đã suy giảm trong hơn hai mươi năm qua và tính nhất quán giữa thông tin được chuyển tải trong lợi nhuận báo cáo và thông tin phù hợp với các nhà đầu tư đã sụt giảm, bất chấp chất lượng của các dự báo của các nhà phân tích. Thậm chí, cho dù theo Collins thì sự liên kết giữa giá trị thị trường và lợi nhuận cùng gía trị ghi sổ có thể ổn định trong bốn mươi năm qua, nhưng những bằng chứng thu thập được cho thấy sự liên kết ấy bị giảm sút trong nửa giai đoạn sau. Lý giải về sự việc trên, Lev và Zarowin cho rằng hệ thống đo lường và báo cáo kế toán không đối phó tốt với sự thay đổi đang tác động sâu sắc đến hoạt động kinh doanh và giá trị thông tin của doanh nghiệp và chính tốc độ thay đổi quá nhanh của doanh nghiệp cùng với sự kiém hiệu quả của hệ thống kế toán trong xử lý các hậu quả của sự thay đổi là những nguyên nhân chính được viện dẫn cho sự suy giảm về tính hữu ích của thông tin tài chính [2, trang 13]. Lev và Zarowin đặt ra vấn đề là làm sao để ngăn chạn sự suy giảm về tính hữu ích của thông tin tài chính và từ đó đưa ra hai đề xuất để nâng cao tính hữu ích của thông tin tài chính, gồm vốn hoá các khoản đầu tư vô hình và trình bày lại một cách có hệ thống các BCTC hiện hành.

Ở một giác độ khác liên quan đến tính hữu ích của thông tin là sự cần thiết của hoạt động kiểm toán độc lập đối với BCTC, bởi lẽ có quá nhiều vấn đề nảy sinh trong quá trình soạn lập, cung cấp thông tin kế toán cho người sử dụng (như mâu thuẫn về lợi ích, khác biệt về nhu cầu sử dụng thông tin, quy trình thông tin - kế toán phức tạp, khả năng kiểm tra thấp) khiến cho thông tin kế toán trở nên thiếu độ tin cậy, không khách quan, chứa đựng nhiều rủi ro về sai sót, gian lận và do vậy, cần phải có sự kiểm tra độc lập, đủ trình độ chuyên môn của bên thứ ba.

Tuy nhiên, việc xem xét vai trò của kiểm toán độc lập đối với BCTC được tiếp cận theo nhiều khía cạnh khác nhau. Trên quan điểm lợi ích của người sử dụng thông tin, các nhà nghiên cứu như Campbell (1985), Shaw (1980) cho rằng kế toán là phương thức mang lại sự tin cậy cho BCTC. Luận điểm này dựa trên giả thiết là BCTC sẽ hữu ích hơn cho những nhóm người sử dụng khác nhau khi chúng được kiểm toán viên độc lập kiểm tra và báo cáo và sự hữu ích tăng thêm này xuất phát từ việc hạn chế bớt rủi ro do việc BCTC chứa đựng những gian lận trọng yếu. Trong khi đó, đứng từ phía người quản lý, Chow và Rice (1982) cho rằng người quản lý tự nguyện chấp nhận kiểm toán vì nhờ đó, làm tăng độ tin cậy của thông tin trên BCTC, cải thiện lợi thế so với trường hợp không kiểm toán. Hơn nữa những lợi ích mang lại theo Campbell sẽ vượt quá chi phí cho cuộc kiểm toán [1, trang 12]. Việc báo cáo (tài chính) là một trách nhiệm phải thực hiện của người quản lý đối với chủ doanh nghiệp và cũng là trách nhiệm của chủ doanh nghiệp đối với các bên liên quan trong xã hội. Do vậy, lợi ích của xã hội sẽ được đảm bảo hợp lý từ việc kiểm toán được xem như là một phần của hệ thống kiểm soát của xã hội đối với thông tin trên BCTC. Nói tóm lại, kiểm toán độc lập là một phương thức đảm bảo ở mức độ hợp lý nhất định độ tin cậy của thông tin để bảo vệ quyền lợi chung của xã hội và các bên liên quan trong nền kinh tế thị trường mà thông tin là cơ sở cho việc ra quyết định kinh tế.

Có thể nói, tính hữu ích của BCTC, đo lường, ghi nhận và trình bày các yếu tố của BCTC tính hữu ích có thể bị suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau. Do vậy, có thể nâng cao tính hữu ích của BCTC như ngăn chặn sự suy giảm tính hữu ích và hoàn thiện cách thức mang lại lợi ích cho người sử dụng thông tin trên nền tảng kế toán hiện có.

Nguyễn Phúc Sinh (Tạp chí Kế toán)

Đăng bởi: Đào tạo Kế toán Tổng hợp Kimi